-->

JAVA SLIDER

Image Slider By helperblogger.com The slide is a linking image Pure Javascript. No jQuery. No flash. #htmlcaption

Tuesday, November 29, 2011

So Sánh văn hóa Đông Tây

Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão… thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel – Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy…
Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông – Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.
- Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.
- Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây
- Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
- Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó
- Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý
Phương Đông
để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.
Phương Tây
Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha… Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.
Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông – Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận… từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông – Tây.
Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.
Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.
Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.
Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.
Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.
Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó
Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.
Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật… của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn… cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.
Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.
Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.
Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn… để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.
Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.
Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.
Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động – phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.
Một nét nữa của triết học Tây – Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể…
Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ…
Đông (Á)
Tây (Âu)
Tinh thần – Đời người – Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệVật chất – Máy móc – Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuậtThiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức — Con người, đạo họcSử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng — Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòaiDùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sốngQuan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hộiẢnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

********************************************************************


So sánh cực vui về văn hóa phương Tây và phương Đông (P1)





Sự khác biệt giữa 2 nền văn hóa Đông Tây luôn là một đề tài thú vị. Mặc dù toàn cầu hóa đang từng bước ảnh hưởng đến mọi mặt của cuộc sống, nhưng không vì thế mà đặc trưng của những nền văn hóa này dần bị hòa tan vào nhau.
Lưu Dương, một nữ họa sĩ người Trung Quốc từng có cơ hội được học tập và sinh sống nhiều năm tại Đức đã truyền tải thông điệp về sự khác biệt giữa 2 nền văn hóa này thông qua triển lãm tranh “East meets West” – Đông Tây tương ngộ.
Cùng ngó qua những điểm khác biệt giữa 2 nền văn hóa bạn nhé!
(Hình bên trái minh họa cho lối sống, văn hóa của người phương Tây, còn bên phải là người phương Đông nhé)
1. Cách bày tỏ quan điểm
Người phương Tây bộc trực, thẳng thắn, không dấu giếm, không vòng vo khi thể hiện suy nghĩ của mình.
Ngược lại, ở phương Đông, mỗi một ý kiến được đưa ra cần có những câu “mở đầu” thật lịch sự, văn hoa, tránh làm mất lòng người nghe.
2. Lối sống
Ở châu Âu, châu Mỹ, mỗi một con người là một cá thể có chính kiến của riêng mình, sống độc lập và tôn trọng cái “tôi” là đặc trưng của cách sống phương Tây.
Trái lại, “chúng ta” là điều mà xã hội Á châu luôn hướng đến, một cuộc sống trong đó không chỉ có bản thân, mà còn cần cộng đồng, cái “tôi” chỉ là một phần nhỏ trong cái “chúng ta” mà thôi.
3. Thời gian
Người phương Tây ưa đúng giờ, không cao su, họ coi việc đến trễ là điều tối kị. Đến muộn là một hành động thể hiện sự thiếu tôn trọng với những người phải chờ đợi mình.
Cao su, co kéo thời gian, cho leo cây là tình trạng thường thấy của người châu Á chúng ta, không chỉ làm người đợi phải bực mình, đến muộn còn khiến chậm tiến độ công việc, thật không nên chút nào!
4. Phương thức làm việc
Hình minh họa cụ thể hóa được phương thức làm việc của 2 nền văn hóa: Trong khi người phương tây làm việc với sự liên kết một cách mạch lạc và có hệ thống, người phương Đông lại có cách tổ chức khá rối rắm và nhằng nhịt.
5. Cách biểu lộ cảm xúc
Cũng giống như lúc đưa ra ý kiến, phương Tây có cách thể hiện cảm xúc một cách thẳng thắn, không nói dối suy nghĩ của bản thân, ngược lại người phương Đông lại có tâm lý “sự thật mất lòng”, thường giấu giếm cảm xúc thật của mình để tránh người khác thấy phiền, khó chịu.
6. Cách xếp hàng
Trong khi ở châu Á, khái niệm xếp hàng có lề có lối có phần “xa xỉ” với rất nhiều quốc gia thì tại châu Âu - Mỹ, hình ảnh những đoàn người đứng chờ mua hàng hay lên xe bus chẳng có gì khiến ta ngạc nhiên.
7. Cái tôi cá nhân
Một người Đức có thể coi cái “tôi” của mình là lớn nhất, quan trọng nhất, đặt mọi nhu cầu cá nhân lên hàng đầu, nhưng một người Trung Quốc hay Nhật Bản sẽ sẵn sàng gác bỏ cái “tôi” ấy qua một bên nhường chỗ cho cái “chúng ta”. Theo người phương Đông, cộng đồng quan trọng hơn cá nhân.
8. Số lượng người trên phố ngày cuối tuần
Sau cả một tuần làm việc mệt mỏi, bạn sẽ làm gì vào ngày cuối tuần quý báu? Nếu bạn là người châu Âu, chắc sẽ chọn phương án ở nhà vui vẻ cùng gia đình, tránh đi phố hay ra ngời đường. Nhưng nếu bạn người châu Á, chắc hẳn tụ tập phố phường là niềm vui của bạn.
9. Tiệc tùng
Khi dự tiệc, người phương Tây sẽ đứng thành những nhóm nhỏ cho dễ nói chuyện, bắt bạn, làm quen. Ngược lại, người phương Đông có thói quen đứng thành vòng tròn như chơi mèo đuổi chuột vậy.
10. Đo mức âm thanh ở nhà hàng
Phương Tây coi trọng sự riêng tư, chính vị vậy ở những nơi công cộng, họ cố gắng nói nhỏ để không làm ảnh hưởng đến người khác, cũng như để người khác không làm ảnh hưởng đến mình. Ngược lại, khi vào một nhà hàng, người phương Đông sẽ “việc ta ta nói”, khiến âm thanh vô cùng ồn ào, khó chịu.
11. Tiêu chuẩn của cái đẹp
Người châu Âu, Mỹ vô cùng hâm mộ làn da bánh mật, họ coi người có làn da như vậy là một người khỏe mạnh, tràn đầy sức sống. Trong khi đó, người châu Á lại thích thú khi sở hữu một làn da “trắng như trứng gà bóc” hơn.
12. Cách giải quyết khó khăn
Phương Tây thường sử dụng phương pháp trực tiếp để tiếp cận vấn đề, nhưng người Á Đông có vẻ khoái cách lòng vòng hơn.

Văn hóa Đông và Tây: Kiến và ong?
Như một đứa trẻ bị đánh nhiều trở nên mất tự tin, hai cụm từ “văn hóa phương Đông” và “văn hóa phương Tây” bị lạm dụng nhiều trở nên mất 90% ý nghĩa.

Mở đầu là một số bức minh họa của anh Yang Liu, một họa sĩ người Trung Quốc đang du học tại Đức. Bên trái là văn hóa Đức, bên phải là văn hóa Trung Quốc. 
 

“Trình bày ý kiến”


“Ông sếp”


Lối sống”


“Bực mình”


“Trẻ em”


“Xếp hàng”


“Cuộc sống người già”


“Tiệc tùng”


“Quan hệ xã hội”


“Nói chuyện tại nhà hàng”


“Tính đúng giờ”


“Cái tôi”


“Du lịch”
Có phải những bức minh họa trên so sánh văn hóa phương Đông với văn hóa phương Tây? (Mặc dù họa sĩ nói so sánh văn hóa Đức với văn hóaTrung Quốc.) Có phải những bức bên trái có nhiều điểm chung thuộc văn hóa Phương Tây, bên phải nhiều điểm chung thuộc văn hóa phương Đông? 

Tôi nghĩ không. 

Thế giới phương Tây đa dạng; nhiều nền văn hóa khác nhau đến mức rất khó tìm ra điểm chung. Thế giới phương Đông càng đa dạng, tìm ra điểm chung là nhiệm vụ bất khả thi. 

Ai từng đi Thụy Sĩ và Ý biết hai văn hóa thuộc hai nước này khác nhau như pizza và socola. Ai từng đi Việt Nam và Nhật (trong đó có tôi) biết hai văn hóa thuộc hai nước đó khác nhau như phở và sushi! Một người giỏi tranh luận có thể bảo vệ quan điểm rằng “Văn hóa Thụy Sĩ gần với văn hóa Nhật Bản hơn với văn hóa Ý,” hoặc “Văn hóa Việt Nam gần với văn hóa Ý hơn với văn hóa Nhật Bản.” Người Nhật xếp hàng giống cách người Thụy Sĩ. Người Ý “quý sếp” giống cách người Việt, v.v. 

Tôi thường nói “Người Tây có quan điểm A, sở thích B...” Chắc do nhiều trang báo nhờ tôi viết bài về “Quan điểm của người Tây về phụ nữ Việt Nam”, hoặc “Cách nhìn của người Tây về Tết Nguyên Đán” nên cái tôi của tôi mở rộng, bị nhầm lẫn quan điểm của Joe và quan điểm tất cả các người Tây đang đi lại trên trái đất. Ảo tưởng tự đại...sứ.

Nói chung văn hóa phương Tây là…Nói chung văn hóa phương Đông là….

Viết vậy không khác gì tôi viết: “Nói chung khí hậu ở bán cầu bắc là rất dễ chịu.”

Tùy nước, tùy vùng.

Tùy trường hợp nữa. Nhìn lại bức tranh “Bực mình” trên. Đúng là có nhiều trường hợp người Canada khi thấy bực mình sẽ nói bực mình, người Việt Nam khi thấy bực mình sẽ nói “vui qúa!”. Nhưng cũng có trường hợp ngược lại. Ví dụ, một người khách làm mất thời gian của bà chủ cửa hàng, chọn, lựa, mặc thử liên tục, cuối cùng đi ra không mua gì hết. Trong trường hợp đó bà chủ ở hai nước sẽ thấy bực mình, nhưng tỷ lệ khách Việt Nam bị “chửi-đuổi” sẽ cao hơn. 

Con kiến và con ong

Thay vì nói “văn hóa phương Đông” và “văn hóa phương Tây”, hai cụm từ rất tối nghĩa, tôi muốn đưa ra một cách so sánh khác: Văn hóa con kiến vàVăn hóa con ong. Đó là hai cách tổ chức xã hội thuộc về lý thuyết, không liên quan vĩ độ, màu da, hay bất cứ yếu tố địa phương nào khác.

Tôi chọn con ong và  con kiến vì cả hai đều là loại côn trùng xã hội (“Vì ta cần nhau”) nhưng lại có lối sống khác nhau. Con ong bay thẳng từ bông hoa này sang bông hoa khác, làm việc độc lập, có thể ở một mình trong thời gian dài nhưng khi cần thì rất biết làm việc nhóm. Con kiến bò từ điểm A sang điểm B là theo con đường ngoằn ngoèo, phức tạp. Nhưng trên con đường ngoằn ngoèo ấy các chú kiến luôn bò cùng nhau, giúp đỡ nhau, chăm sóc lẫn nhau...tóm lại, con kiến rất “nhau”.

Một con ong có thể  tự thụ phấn cho hoa; một nhóm con kiến khi thấy chiếc lá hấp dẫn muốn chuyển sẽ cắt nhỏ, chia mỗi chú một miếng.

Thêm vào đó, các tổ ong chia thành “phòng” hình lục giác, mỗi “gia đình” có không gian riêng của mình, kiến trúc vừa đơn giản vừa hiệu quả. Các tổ kiến có nhiều gia đình một phòng, kiến trúc không đơn giản chút nào nhưng đường phố ngõ ngách các chú kiến biết hết.  
 
Trái: bên trong “nhà ong”. Phải: mẫu bên trong tổ kiến. 

Một số đặc điểm của văn hóa con kiến

- tính cộng đồng cao
 -“Sống chung với lũ”
 - nhiều mối quan hệ  do “cuộc sống tặng”
 - tập trung vào quá  trình làm việc
 - yêu sự hài hòa và cân đối
 - nhà nhiều thế hệ cùng sống
 - chấp nhận “vùng xám” lớn
 - uốn lưỡi bảy lần trước khi nói
Một số  đặc điểm của văn hóa con ong

- đi thẳng vào vấn đề
- đề cao cái tôi  
- nghĩ sao nói vậy 
- thích đen trắng (chấp nhận vùng xám nhưng phải nhỏ)
- tôn trọng không gian riêng của người khác
- “sống để chống lũ”
 -người trẻ và người già khá độc lập
- nhà thường 2 thế  hệ cùng sống
 - tập trung vào kết quả
 - mối quan hệ chủ yếu là “tự tặng mình”

Văn hóa nào cũng có chút “chất kiến”, chút “chất ong”. Nếu “văn hóa con ong nguyên chất” xếp hẳn vào bên trái thước đo của tôi (số 1) và “văn hóa con kiến nguyên chất” xếp hẳn bên phải (số 10) thì tôi nghĩ văn hóa Mỹ sẽ là số 2 và văn hóa Việt Nam sẽ là số 8. 

Tôi thấy văn hóa  Ý, đặc biệt vùng miền Nam và đảo Sicilia, có nhiều khía cạnh rất “kiến”. Ngược lại, tôi thấy văn hóa Nhật Bản có nhiều khía cạnh rất “ong”, có thể nói “Tây hơn cả Tây”. (Những khía cạnh đó tôi sẽ để cho các bạn tự nghiên cứu.) Tôi xếp đảo Sicilia vào số 6 và đảo Nhật Bản vào số 4.5.

Nga nghiêng về bên con kiến. Singapore nghiêng về bên con ong. Úc thì rất ong. Thái thì rất kiến. 

Hàn Quốc trước đây là số 9 nhưng bây giờ là số 7. Canada tôi cho là số 4. Canada vốn là đất nước có hai văn hóa Pháp và Anh, nên người Canada rất hiểu cụm từ “sống chung”, sống hạnh phúc với những gì mình đang có. Các văn hóa thuộc Châu Phi, Trung Quốc, Ấn Độ chủ yếu là văn hóa con kiến; do vậy, trên thế giới “dân kiến” đông hơn “dân ong”. Văn hóa Nam Mỹ kiến hơn văn hóa Bắc Mỹ. Các gia đình Nam Mỹ “Việt Nam” hơn, sống tình cảm, chấp nhận một “vùng xám” lớn. 

Thôi, đủ rồi. Đánh giá từng nền văn hóa không phải mục đích của tôi. Mục đích của tôi là đưa ra một cách so sánh mới, tôn trọng sự đa dạng của thế giới phức tạp này. Và một mục đích nữa – phân tích xu hướng.

Từ  kiến sang ong

Tôi thấy xu hướng chính là từ văn hóa con kiến “dịch chuyển” sang văn hóa con ong. Chúng ta nên nhớ rằng, nhiều văn hóa Châu Âu ngày xưa đã rất con kiến; cách đây mấy trăm năm các gia đình ăn chung, dùng chung một con dao mà chưa có nĩa (wikipedia, “Medieval cuisine”). Thời đó các đại gia đình gần gũi với nhau hơn.
 
Ngày xưa người Tây  ăn chung một cách rất Ta

Yếu tố chính làm thay đổi nhiều nền văn hóa ở Châu Âu là do công nghệ. Nhờ sự phát triển của công nghệ và công nghiệp, những mối quan hệ trước đây coi là “bắt buộc” (dựa vào nhau mà sống), đã thành “tùy ý” (dựa vào nhau nếu thích). Có thể sống độc lập...vì công nghệ. Có thể có nhà riêng...vì công nghệ. Có thể kiếm tiền một mình...vì công nghệ.

Công nghệ cho phép giới trẻ chọn một cuộc sống “ong” hơn. Và nhiều giới trẻ chọn đúng như thế.

Thời cách mạng công nghiệp “văn hóa con ong” đã thu hút nhiều giới trẻ phương Tây, còn thời bây giờ “văn hoa con ong” đó đang thu hút nhiều giới trẻ Việt Nam. Ví dụ, hỏi 100 học sinh Việt Nam “Nếu có cơ hội em sẽ chọn đi du học ở đâu?” tôi nghĩ hơn 80 học sinh ấy sẽ chọn đất nước có nền văn hóa con ong. Phim “con ong” rất thành công ở thị trường “con kiến” này. Con ong bay, nhiều giới trẻ Việt Nam chạy theo.

Đó là xu hướng chính. Nhưng tôi thấy có một xu hướng phụ cũng rất thú vị. Đó là giới trẻ ở nhiều nơi có nền văn hóa con ong đang bắt đầu tìm ý nghĩa cuộc sống ở văn hóa con kiến! Vật chất thì ổn nhưng tinh thần thì chưa. Thay vì đi siêu thị họ chọn đi chợ, mặc cả một chút, nói vui với các anh chị bán hàng. Thay vì ô-tô họ đi xe đạp. Thay vì cố gắng giải quyết mọi vấn đề trong đời, họ học theo đạo Phật, đạo Lão, đạo Ấn, hoặc quyển sách bestseller dạy đời – cứ từ từ mà sống.

Con ong bay về phía  biển, giới trẻ Việt Nam chạy theo. Con kiến bò về phía núi, giới trẻ Canada chạy theo. Triết học đôi khi rất hài hước.

No comments:

Post a Comment